Bạch thược có tác dụng dưỡng huyết, liễm âm, hòa can chỉ thống.

Bạch thược không đơn thuần là cây thuốc quý

Bạch thược (Radix Paeoniae albae) là rễ phơi hay sấy khô của cây thược dược. Vì Vị thuốc sắc trắng, do đó có tên như vậy.

Thuộc loại cây cỏ sống lâu năm, có nhiều rễ to, mập, dùng làm thuốc, rễ có cái dài tới 30cm, đường kính 1-3cm, vỏ màu nâu mặt cắt màu trắng hoặc hồng nhạt, cây có nhiều chồi phát triển thành từng khóm, cây cao 0,5-1m.

Lá non giòn, dễ gãy, đến màu thu lá vàng và rụng. Lá mọc so le, lá kép gồm 3-7 lá chế trứng nhọn, Lá màu xanh nhạt hoặc sẫm.

Hoa to mọc đơn độc, thuộc loại hoa kép, cánh hoa màu trắng, hoặc hồng.

Thược dược không những là câu thuốc quý mà là cây kiểng đẹp. Mỗi hoa thường có vài chục hạt, nhưng có nhiều hạt lép.

Bạch Thược là loài cây bụi ưa ẩm và nhiều ánh sáng.
Bạch Thược là loài cây bụi ưa ẩm và nhiều ánh sáng.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cho đến nay ta vẫn nhập thược dược từ Trung Quốc. Tại Trung Quốc có loại trồng cho củ to hơn, loại mọc hoang cho củ nhỏ hơn. Mọc hoang ở các tỉnh Hắc Long Giang, Cát Làm, Hà Bắc, Liêu Ninh, Hà Nam, Sơn Đông, trong rừng, dưới những cây bụi hoặc những cây to.

Tất cả đều thuộc họ Mao lương (Ranunculaceae). Cũng không nên nhầm cây thược dược làm thuốc với cây hoa thược dược được trồng làm cảnh ở nước ta vào dịp tết, thuộc cây Dahiia variabilis Desf, họ Cúc (Asteraceae).

Năm 1960, ta đã di thực thành công một số cây ở Sapa (Lào Cai).

Sau khi trồng được 4 năm mới bắt đầu thu hoạch. Vào tháng 8-10, rễ cây được đào về, cắt bỏ thân rễ và rễ con, rửa sạch đất và cạo bỏ lớp vỏ ngoài. Sau đó ngâm vào nước nửa ngày rồi đem luộc chín, vớt ra rồi đem phơi hoặc sấy khô.

Ngoài ra, ở Hàng Châu, người dân thường đào rễ vào tháng 6, cắt bỏ rễ con rồi rửa sạch, đồ cho chín rồi phơi 1-2 ngày, sau đó đem ngâm nước cho mềm, chỉnh lại dáng cho thẳng rồi lại đem phơi dưới nắng nhẹ cho khô. Nếu dược liệu chưa qua bào chế thì phải sấy Lưu huỳnh, còn khi bào chế rồi thì phải bảo quản nơi khô ráo, tránh ẩm ướt.

Rễ của cây bạch thược được dùng tươi hoặc phơi khô tán bột, tạo cao, sắc nước để trị bệnh.
Rễ của cây bạch thược được dùng tươi hoặc phơi khô tán bột, tạo cao, sắc nước để trị bệnh.

Thành phần hóa học của cây bạch thược

Trong bạch thược có chứa tinh bột, tamin, canxi oxalate, một tinh dầu, chất béo, chất nhầy, axit benzoic, nhựa, glucoside thược dược (C22H28O11) (Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Đỗ Tất Lợi).

Theo Trung Dược Học còn chỉ ra một số thành phần khác như paeonol, paeonin, sistosterol, paeniflorin và trierpenoids.

Tác dụng dược lý của cây bạch thược

Theo đông y, bạch thược có vị đắng, chua, tính hơi hàn, có tác dụng nhuận gan, dưỡng huyết, lợi tiểu, chữa đau bụng, mồ hôi trộm, kinh nguyệt không đều,…

Chất axit benzoic có trong cây bạch thược có tác dụng trừ đờm, chữa ho. Theo Trung Dược Học, thành phần glucosid trong cây thược dược có tác dụng ức chế khu trung ương thần kinh. Do đó làm giảm đau và an thần tốt, đồng thời chống lại sự hình thành huyết khối do tiểu cầu tăng. Bảo vệ gan và tăng lượng máu dinh dưỡng cơ tim.

Vào năm 1950, Lưu Quốc Thanh đã có nghiên cứu và chỉ ra rằng. Nước sắc từ cây bạch thược có tác dụng kháng khuẩn tốt. Đặc biệt là đối với vi trùng lỵ, tụ cầu, phế cầu, trực tràng bạch hầu.

Năm 1953, theo Nhật Bản Đông Dương y học tạp chí. Một số nghiên cứu tại Nhật đã chỉ ra. Cây bạch thược còn có tác dụng kích thích nhu động của dạ dày và ruột cô lập ở thỏ.

Rễ của cây thược dược được sử dụng để điều trị nhiều loại bệnh khác nhau.
Rễ của cây thược dược được sử dụng để điều trị nhiều loại bệnh khác nhau.

Một số đơn thuốc có bạch thược

Trị ho gà

Bạch Thược 15g + Cam Thảo 3g (Tùy chứng gia vị thêm: ho nhiều thêm Bách Bộ, Bách Hợp) tạo thành thang sắc nước uống liên tiếp trong vòng 1 tháng để trị ho gà. Tiếp tục theo dõi và điều trị tiếp dựa trên tình trạng của bệnh.

Trị băng lậu hạ huyết, rong kinh

Bạch thược, Thục địa, Can khương, Quế lâm, Long cốt, Mẫu lệ, Hoàng kỳ, Lộc giác giao, mỗi thứ 8g, tán bột, uống mỗi lần 8g ngày 3 lần với rượu nóng trước khi ăn để trị băng lậu hạt huyết hoặc rong kinh kéo dài.

Trị đầu đau, chóng mặt

Bạch thược 12g, Câu đằng 12g, Phục thần 12g, Bối mẫu 12g, Cúc hoa 12g, Sinh địa 16g, Cam thảo 4g, Linh dương giác 4g, Tang diệp 12g, Trúc nhự 12g đem sắc nước uống trong ngày để trị đau đầu, chóng mặt.

Kiêng kị

Chú ý sử dụng cây bạch thược trị bệnh theo chỉ dẫn của y bác sĩ để mang lại hiệu quả như ý muốn. Không nên tự ý áp dụng chữa bệnh.

Share on facebook
Facebook
Share on twitter
Twitter
Share on linkedin
LinkedIn

Để lại bình luận